Gãy sàn hốc mắt (hay còn gọi thành dưới hốc mắt) là tổn thương thường gặp trong các trường hợp chấn thương vùng mặt, đặc biệt chấn thương do va đập mạnh. Gãy sàn hốc mắt có thể xảy ra riêng lẻ hoặc gãy phối hợp với thành trong hốc mắt. Đây là một chấn thương nghiêm trọng, cần được điều trị kịp thời để bảo tồn chức năng của mắt và đảm bảo tính thẩm mỹ cho khuôn mặt. Chấn thương này thường gặp trong sinh hoạt tại cộng đồng.
Bài viết giúp bạn đọc hiểu rõ hơn về loại chấn thương này để phòng ngừa và sớm đến cơ sở y tế chuyên khoa mắt xử lý, điều trị kịp thời.

Ảnh minh họa
Nguyên nhân
Gãy sàn hốc mắt có/ không kèm theo gãy thành trong hốc mắt thường xảy ra do xương của vùng này mỏng hơn nhiều so với các xương của thành ngoài hay thành trên ổ mắt. Chấn thương đụng dập vùng mặt – gò má do tai nạn sinh hoạt, tai nạn lao động, tai nạn thể thao hay do ẩu đả là những nguyên nhân dẫn đến chấn thương vùng mặt và gãy sàn hốc mắt.
Triệu chứng
Khi người bệnh bị chấn thương đụng dập vùng mặt có thể xuất hiện những triệu chứng khiến nghĩ nhiều đến gãy sàn hốc mắt, bao gồm:
– Sưng nề và bầm tím quanh mắt. Triệu chứng này xuất hiện do tổn thương mạch máu vùng hốc mắt.
– Giới hạn vận nhãn. Nguyên nhân là do kẹt cơ, gây khó khăn khi nhìn hướng lên hoặc xuống, có thể xảy ra tình trạng song thị (nhìn đôi).
– Hõm mắt, thụt nhãn cầu. Mắt bị chấn thương sẽ bị thụt vào trong (hốc mắt trũng sâu) hoặc biến dạng vùng mặt. Triệu chứng này có thể không rõ ràng trong giai đoạn đầu sau chấn thương vì lúc này mắt còn phù nề nhiều, khoảng 10 ngày sau chấn thương khi phù nề giảm triệu chứng sẽ rõ rệt hơn.
– Tê bì vùng má và mi dưới: Do tổn thương dây thần kinh dưới ổ mắt.
– Khó thở qua mũi hoặc chảy máu mũi. Triệu chứng này xuất hiện khi tổn thương liên quan đến xoang hàm trên.
– Nhìn mờ. Nếu chấn thương làm tổn thương thần kinh thị, người bệnh sẽ thấy giảm hoặc mất thị lực.
Chẩn đoán
Để chẩn đoán gãy sàn hốc mắt, người bệnh cần được bác sĩ thăm khám lâm sàng để ghi nhận các triệu chứng liên quan đến vận nhãn, thị lực, các tổn thương đi kèm khác tại nhãn cầu hay các cấu trúc xung quanh. Ngoài ra, người bệnh cũng cần được chụp X Quang hoặc cắt lớp vi tính (CT-scan) hốc mắt 3 mặt phẳng để xác định chính xác tình trạng gãy sàn, tình trạng kẹt cơ cũng như tổn thương các cấu trúc xương và xoang lân cận.
Điều trị
Đối với chấn thương “gãy sàn hốc mắt”, việc điều trị tùy thuộc vào mức độ và các tổn thương đi kèm.
Nếu người bệnh chỉ bị gãy nứt xương thành hốc mắt hoặc gãy nhưng không di lệch, không kẹt tổ chức, cơ vận nhãn, không hạn chế vận nhãn, không song thị, không ảnh hưởng thị lực thì có thể theo dõi điều trị ngoại trú.
Nếu người bệnh có tình trạng phù nề kết mạc hay tổ chức hốc mắt nhiều gây khó khăn trong việc đánh giá mức độ gãy sàn hốc mắt thì nên điều trị nội khoa trước với thuốc kháng viêm. Khi tình trạng phù nề được cải thiện, có thể chụp lại CT-scan để đánh giá chính xác tổn thương.
Nếu người bệnh có tình trạng song thị, giới hạn vận nhãn do kẹt cơ hoặc thụt nhãn cầu gây mất thẩm mỹ thì nên được phẫu thuật sớm để giải phóng cơ bị kẹt, tránh để lâu gây xơ hóa cơ. Phẫu thuật nên được tiến hành trong vòng 2 tuần để đạt hiệu quả tốt nhất. Phẫu thuật lót sàn bằng Titanium là phương pháp điều trị được chọn lựa để nâng nhãn cầu của người bệnh lên, giải phóng cơ kẹt giúp giảm tình trạng song thị.
Gãy sàn hốc mắt là một tình trạng chấn thương nghiêm trọng thường gặp trong chấn thương nhãn khoa. Do đó, người bệnh nên tuân thủ chặt chẽ phác đồ điều trị và đến tái khám định kỳ để đảm bảo quá trình hồi phục diễn ra tốt nhất.
Hy vọng những thông tin trên đã giúp bạn đọc hiểu rõ về tình trạng gãy xương hốc mắt, gãy xương hốc mắt có nguy hiểm hay không cũng như tầm quan trọng của việc phát hiện và điều trị kịp thời.
Khoa Tạo hình Thẩm mỹ-Thần kinh Nhãn khoa
Tài liệu tham khảo
- Bài giảng Nhãn Khoa . Bộ môn Mắt Đại học Y dược TP Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Y học 2021
- American Academy of Ophthalmology, BCSC 2019 – 2020, Section 7: Oculofacial Plastic and Orbital Surgery, 114 – 117.
- Habib LA, Yoon MK. Patient specific implants in orbital reconstruction: A pilot study. Am J Ophthalmol Case Rep. 2021 Oct 19;24:101222. doi: 10.1016


